MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN PHỔ THÔNG VỀ HIV/AIDS


I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HIV VÀ AIDS
1. HIV là gì?
           HIV (Viết tắt từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Human Immunodeficiency Virus) là tên gọi tắt của một loại vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người.
Cũng có thể hiểu “nôm na” HIV là loại vi rút làm mất dần sức đề kháng (khả năng chống lại bệnh tật) của con người.
hiv-curt
2. Một số đặc điểm cơ bản của HIV
2.1. Về cấu tạo
– Kích thước của HIV vô cùng nhỏ bé, chỉ vào khoảng từ 80 – 120 nanomét (01 nanomét chỉ nhỏ bằng 01 phần tỷ mét). Do vậy ta chỉ có thể nhìn thấy nó dưới kính hiển vi điện tử phóng đại hàng triệu lần. Nhờ kích thước nhỏ bé này HIV có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua các vết xây xước rất nhỏ và có thể qua cả niêm mạc.
– Khả năng biến đổi của HIV rất lớn nên hiện nay trên thế giới có nhiều chủng, dưới chúng HIV khác nhau. Thậm chí trong quá trình điều trị bằng các thuốc kháng vi rút (ARV) hiện nay HIV có thể biến đổi, trở nên kháng thuốc và các vi rút mới kháng thuốc này cũng lây truyền từ người này sang người khác. Đây là khó khăn lớn nhất đối với việc nghiên cứu chế tạo vắc xin chống HIV cũng như thuốc điều trị AIDS.
– Bề mặt của HIV có rất nhiều gai nhú giống như. Các gai nhú này giúp nó dễ dàng bám và đột nhập rất nhanh vào các tế bào bạch cầu – những tế bào vốn có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật.
Các đặc điểm trên của HIV là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, chế tạo thuốc điều trị AIDS và vắc xin dự phòng lây nhiễm HIV…
2.2. Về một số đặc điểm lý hóa
– Vỏ của HIV được cấu tạo bởi lớp lipid kép. Chính lớp vỏ kép này giúp cho HIV giữ được sức bền của bề mặt để có thể tồn tại lâu hơn khi khi nó ở ngoài cơ thể. Nhờ đó HIV có thể tồn tại ngoài môi trường từ vài ngày đến một tuần, nhất là khi nó  nằm trong các mẫu máu dính trong các bơm kim tiêm đã sử dụng.
            – HIV có thể tồn tại ở trong xác chết bệnh nhân AIDS trong vòng 24 giờ.
– Nhiệt độ dưới 0oC, tia X, tia cực tím không giết được HIV.
– Tuy nhiên, khi ở ngoài cơ thể, dưới tác động của nhiệt độ và các chất sát trùng thông thường HIV lại bị tiêu diệt. Ví dụ:
          + HIV bị tiêu diệt sau 30 phút ngâm trong cồn 70 độ, dung dịch Cloramin 1%, nước Javen 1%…
           Do vậy, nếu ta ngâm dụng cụ tiêm, chích trong cồn 70 độ hoặc quần áo, đồ vải có dính máu nhiễm HIV vào dung dịch Cloramin 1%, nước Javel 1% trong 30 phút… là có thể tiêu diệt được HIV.
+ Nếu bị đun sôi trong 20 phút (kể từ khi nước sôi) thì HIV sẽ bị chết.
           Do vậy, nếu chúng ta luộc các dụng cụ phẫu thuật, tiêm, chích… (bằng thuỷ tinh hay kim loại) 20 phút kể từ khi nước sôi trước mỗi khi sử dụng thì đã có thể diệt được HIV…
Các  đặc điểm lý hóa trên của HIV chính là cơ sở khoa học để chúng ta xác định các biện pháp xử lý và dự phòng được sự lây nhiễm HIV, như xử lý các dụng cụ, đò vải… có dính máu và dịch sinh học của người nhiễm HIV cũng như xác định các biện pháp xử lý khi bị phơi nhiễm HIV.
3. Cơ chế HIV xâm nhập, phát triển và gây bệnh cho con người 
Hệ miễn dịch của con người, với thành phần chủ lực là bạch cầu, là lực lượng bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của các loại tác nhân gây bệnh xâm nhập từ bên ngoài hoặc mầm bệnh ung thư phát sinh từ một số tế bào trong cơ thể.
Người ta có thể ví bạch cầu như những người lính luôn đi “tuần tra” khắp cơ thể để phát hiện và chiến đấu chống lại các mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài hoặc phát sinh từ bên trong cơ thể.
Trong đội ngũ bạch cầu, có một loại đặc biệt gọi là lympho bào T có điểm thụ cảm CD4 (gọi tắt là tế bào CD4), đóng vai trò như một “Tổng chỉ huy”, có nhiệm vụ điều phối, huy động hay “rút lui” toàn bộ hệ thống miễn dịch của cơ thể.
Sau khi xâm nhập cơ thể, HIV tấn công ngay vào các bạch cầu, nhất là lympho bào T-CD4. HIV sử dụng chính chất liệu di truyền của các tế bào bạch cầu này để nhân lên, để sinh sôi nảy nở. Như vậy, bạch cầu không những không bao vây, tiêu diệt được HIV, mà còn bị HIV biến thành “kẻ tòng phạm” và cuối cùng bị HIV phá huỷ.
HIV phá huỷ bạch cầu ngày càng nhiều, dẫn đến hệ miễn dịch của cơ thể bị suy giảm dần, cuối cùng là bị “vô hiệu hóa” và điều đó có nghĩa là cơ thể con người không còn được bảo vệ nữa. Lúc đó, mọi mầm bệnh khác như vi trùng, siêu vi trùng nhân cơ hội gây bệnh (nhiễm trùng cơ hội) và cả tế bào ung thư “mặc sức hoành hành” gây nên nhiều bệnh nguy hiểm… và dẫn đến tử vong.
Ngoài ra, sau khi xâm nhập cơ thể, HIV còn có thể trực tiếp phá hoại tế bào thần kinh đệm khiến người bệnh lú lẫn, mất trí… hoặc xâm nhập vào các cơ quan thần kinh, dạ dày, ruột, da… gây nên một số bệnh cho các cơ quan này, làm cho bệnh cảnh của AIDS vì thế mà trở nên hết sức đa dạng và phức tạp, khó chẩn đoán.
4. AIDS là gì ?
 AIDS (Cách viết tắt từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Aquired ImmunoDeficiency Syndrome hay còn gọi là SIDA (cách viết tắt từ của cụm từ tiếng Pháp: Syndrôm dé Immuno Dèficience Acquise) – là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người – giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV.
Hội chứng là một tập hợp các triệu chứng. Ví dụ hội chứng nhiễm trùng bao gồm các triệu chứng sốt, nhức đầu, môi khô, lưỡi bẩn…
AIDS không phải là hội chứng bẩm sinh, hay di truyền mà là mắc phải do có các hành vi nguy cơ trong quá trình sống của con người, như dùng chung bơm kim tiêm hoặc quan hệ tình dục không dùng bao cao su với người nhiễm HIV, dẫn đến bị lây nhiễm HIV, và từ nhiễm HIV phát triển thành AIDS.
AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV. Thời gian từ khi nhiễm HIV cho đến khi thành AIDS dài hay ngắn tùy thuộc vào sức chống đỡ bệnh tật và hành vi của từng người. Trung bình từ khi nhiễm HIV đến khi thành AIDS kéo dài từ 5-7 năm, nhưng có nhiều trường hợp có thể kéo dài đến hàng chục năm nếu người nhiễm HIV biết cách giữ gìn sức khỏe và không có hành vi nguy cơ liên quan đến lây  nhiễm HIV.
5. Quá trình phát triển từ nhiễm HIV thành AIDS trong cơ thể người 
Như trên đã trình bày, nhiễm HIV không phải là thành AIDS ngay mà nó diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, có thể lên đến hàng chục năm và trong khoảng thời gian này, người nhiễm HIV hoàn toàn khỏe mạnh, họ vẫn sống, lao động và học tập bình thường, nhưng họ lại có thể làm lây truyền bệnh từ người này sang người khác vì HIV đang tồn tại và “sinh sôi nảy nở” trong cơ thể họ.
Quá trình từ nhiễm HIV thành AIDS dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như sức đề kháng của người nhiễm, lối sống và sinh hoạt của họ sau khi nhiễm bệnh, sự chăm sóc của gia đình, người thân, mức độ kỳ thị phân biệt đối xử của xã hội…
Theo các nhà nghiên cứu thì quá trình phát triển từ nhiễm HIV thành AIDS có thể trải qua một số giai đoạn và sự phân chia giai đoạn này có thể khác nhau trong các tài liệu khác nhau, nhưng nhìn chung có thể chia làm 03 giai đoạn chính như sau:
– Giai đoạn 1 là Nhiễm HIV cấp (hay còn gọi thời kỳ cửa sổ – thời kỳ chuyển đổi huyết thanh). Người nhiễm HIV hầu như không có biểu hiện gì hoặc chỉ có ít những triệu chứng thông thường giống như cảm cúm, nhưng sau đó các triệu chứng này qua đi một cách tự nhiên, nên ngay bản thân người nhiễm cũng không “để ý” tới.
Giai đoạn này thường kéo dài từ 2 tuần đến 3 tháng, đôi khi tới 6 tháng.
Vào đầu giai đoạn này cơ thể chưa kịp sinh ra kháng thể chống lại HIV (gọi tắt là kháng thể HIV) hoặc lượng kháng thể HIV còn ít nên các xét nghiệm thông thường (tìm kháng thể) không phát hiện được và kết quả trả lời là “âm tính”. Do vậy các nhà chuyên môn còn gọi giai đoạn này là “thời kỳ cửa sổ”.
Đây là giai đoạn “nguy hiểm”, bởi không phát hiện được người nhiễm HIV qua các xét nghiệm máu thông thường (tìm kháng thể), mặc dù họ thật sự đã bị nhiễm HIV và họ hoàn toàn có thể “vô tình” truyền bệnh cho người khác mà không hề biết.
– Giai đoạn 2 là Nhiễm HIV không có triệu chứng, có thể kéo dài nhiều năm, trung bình là từ 8-10 năm và có thể lâu hơn.
Trong giai đoạn này, sức chống đỡ của cơ thể còn mạnh nên số lượng HIV trong máu còn thấp. Người mang HIV hầu như không có triệu chứng gì thể hiện ra bên ngoài và hoàn toàn khỏe mạnh như người không nhiễm HIV, do vậy họ vẫn sống, làm việc, học tập và sinh hoạt bình thường, tuy nhiên họ có thể làm lây truyền HIV sang người khác.
– Giai đoạn 3 là AIDS, đây chính là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV trong cơ thể, với một số biểu hiện triệu chứng bệnh ra bên ngoài. Giai đoạn này thường kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm nếu không được điều trị bằng thuốc kháng vi rút thì kết thúc bằng tử vong.
Như vậy chúng ta cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa nhiễm HIV và AIDS:
– Nhiễm HIV là khi người ta có mang HIV trong cơ thể nhưng vẫn hoàn toàn khỏe mạnh và không có bất kỳ một triệu chứng bệnh nào liên quan đến HIV. Người nhiễm HIV chưa phải là người ốm, chưa phải là bệnh nhân, họ vẫn sống, lao động, học tập và sinh hoạt như mọi người bình thường khác.
– AIDS là giai đoạn cuối cùng của nhiễm HIV. Người nhiễm lúc này có các biểu hiện lâm sàng nặng của nhiều loại bệnh do suy giảm miễn dịch liên quan đến HIV. Người nhiễm HIV ở giai đoạn AIDS là người bệnh, họ cần được chăm sóc và điều trị thích hợp như mọi người bệnh khác.
Người bị nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS có một vài đặc điểm chung, nhưng về cơ bản là khác nhau.
6. Những dấu hiệu cho biết một người nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS
Do bị HIV làm suy yếu hệ thống miễn dịch nên người nhiễm HIV có thể mắc nhiều chứng bệnh khác nhau nên ở họ có thể có rất nhiều các biểu hiện (triệu chứng) bệnh khác nhau.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng, nhiễm HIV được coi như đã chuyển sang giai đoạn AIDS khi ở người nhiễm xuất hiện ít nhất 02 triệu chứng chính cộng 01 triệu chứng phụ sau:
          Nhóm triệu chứng chính:
– Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể.
– Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng.
– Sốt kéo dài trên 1 tháng.
         Nhóm triệu chứng phụ:
– Ho dai dẳng trên một tháng.
– Nhiễm nấm Candida ở hầu họng.
– Ban đỏ, ngứa da toàn thân.
– Herpes ( Nổi mụn rộp ), Zona ( Giời leo ) tái phát.
– Nổi hạch ở nhiều nơi trên cơ thể…
II. CÁC ĐƯỜNG LÂY TRUYỀN VÀ KHÔNG LÂY TRUYỀN HIV
1. Cơ sở khoa học để xác định đường lây truyền và không lây truyền HIV
1.1. Nguồn lây và nguy cơ lây nhiễm
Người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất của HIV. Không có ổ chứa nhiễm trùng tự nhiên ở động vật như với đa số các dịch bệnh khác mà loài người từng biết đến.
Tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, giới tính, vị trí xã hội, nghề nghiệp…đều có thể bị nhiễm HIV nếu có hành vi không an toàn dù chỉ một lần trong cuộc sống.
Trong cơ thể người nhiễm, người ta đã tìm thấy HIV có ở phần lớn các dịch của cơ thể, như máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, nước tiểu, sữa mẹ… Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy rằng chỉ có trong máu, dịch sinh dục (tinh dịch của nam và dịch tiết âm đạo của nữ) và trong sữa của người nhiễm HIV mới có đủ lượng HIV có thể làm lây truyền HIV từ người nọ sang người kia.
           Do đó, trên thực tế chỉ có các đường (phương thức) làm lây truyền HIV sau:
– Đường máu;
– Đường tình dục;
            – Đường truyền từ mẹ sang con;
Mọi sự tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch sinh dục của người mà ta không biết chắc chắn là người đó không  nhiễm HIV đều có nguy cơ nhiễm HIV.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ lây nhiễm HIV
Các nghiên cứu về HIV cho thấy các hành vi tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây (máu, dịch sinh dục, sữa mẹ nhiễm HIV) đều có nguy cơ lây nhiễm HIV, tuy nhiên  mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV (nguy cơ cao, nguy cơ thấp, không nguy cơ…) còn phụ thuộc vào một số yếu tố sau đây:
– Diện tiếp xúc: Diện tiếp xúc càng rộng nguy cơ lây nhiễm HIV càng cao;
– Thời gian tiếp xúc: Thời gian tiếp xúc càng lâu, nguy cơ lây nhiễm HIV càng lớn.
– Tình trạng nơi tiếp xúc: Nếu nơi tiếp xúc có vết loét, vết xước… thì nguy cơ lây nhiễm càng cao.
– Nồng độ HIV trong dịch tiết: Nồng độ HIV trong dịch tiết mà ta tiếp xúc càng cao thì nguy cơ lây nhiễm càng lớn.
– Nồng độ HIV trong các dịch thể, các giai đoạn nhiễm HIV… là rất khác nhau, ví dụ:
+ HIV có nhiều nhất trong máu, rồi đến dịch sinh dục, tiếp đến là sữa của người nhiễm.
+ Ngay trong dịch sinh dục, thì tinh dịch của nam chứa nhiều HIV hơn trong dịch tiết âm đạo nữ.
+ Dịch thể của người nhiễm HIV ở giai đoạn nhiễm HIV cấp (“cửa sổ”) và ở giai đoạn AIDS có nồng độ HIV cao hơn nhiều so với giai đoạn nhiễm HIV không triệu trứng;
+ Lượng HIV trong dịch thể của người nhiễm được điều trị thuốc kháng vi rút cũng thấp hơn ở người không được điều trị.
2. Các đường lây truyền HIV 
2.1 Lây truyền HIV qua đường máu
HIV có nhiều trong máu toàn phần cũng như trong các thành phần của máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu. Do đó HIV có thể lây truyền qua máu  và các chế phẩm của máu có nhiễm HIV.
Về nguyên tắc, có thể nói mọi trường hợp tiếp xúc trực tiếp với máu của người mà ta không biết chắc chắn là họ có nhiễm HIV hay không đều có nguy cơ lây nhiễm HIV, ví dụ:
– Lây truyền HIV từ người này sang người khác qua các dụng cụ xuyên chích qua da, như trong các trường hợp sau:
+  Dùng chung bơm kim tiêm, nhất là với người tiêm chích ma túy;
+  Dùng chung các loại kim xăm trổ, kim châm cứu, các dụng cụ xăm mi, xăm mày, lưỡi dao cạo râu…;
+  Dùng chung hoặc dùng khi chưa được tiệt trùng đúng cách các dụng cụ phẫu thuật, dụng cụ khám chữa bệnh… có xuyên cắt qua da…
– Lây truyền qua các vật dụng có thể dính máu của người khác trong các trường hợp như dùng chung bàn chải đánh răng, khăn mùi xoa…
 – Lây truyền qua các tiếp xúc trực tiếp với máu khác, như bị dính máu của người nhiễm HIV vào nơi có các vết thương hở hoặc da xây sát hoặc niêm mạc…
– Lây truyền qua truyền máu và các sản phẩm của máu hoặc ghép các mô, các tạng… bị nhiễm HIV. Hoăc qua các dụng cụ truyền máu, lấy máu… không được tiệt trùng đúng cách.
 2.2. Lây truyền HIV qua đường tình dục 
          Đường tình dục là một trong 3 con đường chính lây truyền HIV và được coi là phương thức lây truyền HIV quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới. Khoảng 70-80% tổng số người nhiễm HIV trên thế giới là bị lây nhiễm qua con đường này.
Sự lây truyền HIV qua đường tình dục xảy ra khi các dịch thể (máu, dịch sinh dục) nhiễm HIV (của người nhiễm HIV) tìm được “đường xâm nhập” vào cơ thể bạn tình không nhiễm HIV. “Đường xâm nhập” này không nhất thiết phải là các vết thương hở hay vết loét trên da mà cả những vết trấy xước nhỏ không nhìn thấy bằng mắt thường hoặc ta (người có vết xước) cũng không cảm nhận thấy. Hơn thế, niêm mạc trong các hốc tự nhiên của cơ thể như đường âm đạo, lỗ niệu đạo ở đầu dương vật, trực tràng, thậm chí niêm mạc mắt và cuống họng có các lỗ rất nhỏ mà HIV (vốn cũng rất nhỏ) có thể xâm nhập được.
Do HIV có nhiều trong dịch sinh dục (tinh dịch của nam và dịch tiết âm đạo của nữ) với đủ lượng có thể làm lây truyền từ người này sang người khác, cho nên về nguyên tắc mọi sự tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục của người mà ta không biết chắc chắn là người đó chưa nhiễm HIV đều có nguy cơ bị nhiễm HIV.
Ngoài ra, trong quan hệ tình dục HIV còn có thể lây truyền qua đường máu. Máu trong trường hợp này có thể là máu kinh nguyệt, máu từ các vết thương hoặc vết loét ở  cơ quan sinh dục  hay từ các vết xước do động tác giao hợp gây ra.
Từ các lý do nêu trên, có thể nói tất cả các hình thức quan hệ tình dục có xâm nhập (Dương vật – hậu môn; Dương vật –  âm đạo; Dương vật – miệng) với một người nhiễm HIV đều có nguy cơ lây nhiễm HIV. Các kiểu quan hệ tình dục không xâm nhập (ví như Tay – Dương vật; Tay – Âm đạo…) nếu có tiếp xúc với dịch sinh dục nhiễm cũng có nguy cơ lây nhiễm HIV nếu một trong hai bạn tình đã nhiễm HIV.
Tuy nhiên, mức độ nguy cơ là khác nhau, xếp theo thứ tự các “kiểu” quan hệ tình dục có xâm nhập phổ biến thì nguy cơ từ cao đến thấp là: Qua đường hậu môn, Quan đường âm đạo và cuối cùng là qua đường miệng. Nhìn chung trong cả 03 kiểu quan hệ tình dục này thì người nhận tinh dịch có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn.
a) Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục xâm nhập đường hậu môn
Quan hệ tình dục xâm nhập Dương vật – Hậu môn thường được thực hành phổ biến trong quan hệ tình dục đồng giới nam, nhưng cũng khá phổ biến trong quan hệ tình dục khác giới nam – nữ. Đây là hình thức quan hệ tình dục có nguy cơ lây truyền HIV cao nhất, vì:
– Trực tràng không được cấu tạo để quan hệ tình dục. Nó không thể co giãn như âm đạo. Vì thế, nó dễ bị xước và chảy máu. Các vết xước này tạo ra đường vào cho HIV;
– Ruột già và trực tràng là một môi trường không vệ sinh. Để ngăn ngừa vi khuẩn từ môi trường này xâm nhập vào cơ thể, ruột già và trực tràng có một lớp tế bào bạch cầu để chống lại sự nhiễm khuẩn. Các bạch cầu này đều là những tế bào CD4, trong khi tế bào CD4 lại là loại tế bào dễ bị HIV gắn vào rồi từ đó đi khắp cơ thể. Việc này có thể xảy ra ngay cả khi không có vết xước và chảy máu trong suốt quá trình quan hệ tình dục qua đường hậu môn.
b) Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đường âm đạo
 Quan hệ tình dục đường âm đạo là hình thức quan hệ tình dục nam – nữ phổ biến nhất và cũng là kiểu quan hệ tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV cao. Ngay cả khi thành âm đạo không bị tổn thương, các lỗ nhỏ li ti trên niêm mạc và chất lót của các tế bào biểu mô cũng là “cửa mở” cho HIV từ dịch sinh dục của bạn tình nhiễm HIV xâm nhập vào bạn tình kia. HIV cũng có thể lây nhiễm từ bạn tình nữ sang nam qua cả niệu đạo.
c) Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đường miệng
Quan hệ tình dục đường miệng hiện cũng đang thực hành cả trong trường hợp quan hệ tình dục nam – nam, nam – nữ, nữ – nữ. Đây cũng là kiểu quan hệ tình dục có nguy cơ lây truyền HIV nếu một trong các bạn tình nhiễm HIV, vì HIV từ dịch sinh dục, hoặc từ máu (do các loét trong miệng…) có thể xâm nhập qua các vết loét tương tự ở bạn tình.
Tuy nhiên, quan hệ tình dục qua đường miệng có nguy cơ thấp hơn so với hai kiểu quan hệ tình dục nêu trên, vì:
– Trong miệng có một lượng nước bọt lớn. Nước bọt vốn có tính kháng khuẩn, giúp tiêu diệt hoặc làm bất hoạt HIV trước khi nó xâm nhập vào cơ thể.
– Nếu có nuốt phải các dịch nhiễm HIV (tinh dịch hay dịch âm đạo) thì a xít mạnh trong dạ dày một người trưởng thành sẽ làm bất hoạt HIV.
2.3. Lây truyền HIV từ mẹ sang con
Người mẹ nhiễm HIV có thể truyền HIV cho con
– Khi mang thai: HIV từ máu của mẹ nhiễm HIV qua rau thai để vào cơ thể thai nhi.
– Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhập vào trẻ khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trong quá trình đẻ). Khi sinh HIV cũng có thể từ trong máu mẹ thông qua các vết loét ở cơ quan sinh dục me mà dính vào cơ thể (niêm mạc) của trẻ sơ sinh.
– Khi cho con bú: HIV có thể lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ở núm vú người mẹ, nhất là khi trẻ đang có tổn thương ở niêm mạc miệng hoặc khi trẻ mọc răng cắn núm vú chảy máu…
3. Một số nhóm dễ cảm nhiễm hơn với HIV 
Nói chung, mọi người đều có thể bị nhiễm HIV nếu không có các hành vi an toàn. Tuy nhiên, trên thực tế có một số người dường như có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn.
3.1. Những người dễ bị nhiễm HIV lây qua đường tình dục
– Người đồng tính luyến ái nam giao hợp qua hậu môn dễ lây bệnh hơn vì niêm mạc hậu môn, trực tràng dễ bị xây xước do mỏng hơn và thiếu dịch nhờn.
– Người mua-bán dâm, cũng do dễ bị xây xước (quan hệ tình dục không tình yêu), do xác xuất gặp người nhiễm HIV nhiều hơn…;
          – Người ép dâm, cưỡng dâm, hiếp dâm…và người “bị” ép dâm, cưỡng dâm, hiếp dâm… cũng do dễ bị xây xước;
          – Càng quan hệ tình dục với nhiều người, xác suất gặp người nhiễm HIV càng cao nên càng dễ có khả năng bị lây nhiễm. Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp chỉ quan hệ một lần cũng đã mắc bệnh.
– Người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như lậu, giang mai hoặc người bị các bệnh ở cơ quan sinh dục (viêm loét do bẩn hoặc trầy xước do vết thương…) vì HIV dễ dàng qua các vết loét, sây sát…
3.1.1. Phụ nữ dễ bị lây nhiễm HIV qua đường tình dục hơn nam giới, vì
– Về mặt cấu tạo: Tổng diện tích niêm mạc âm đạo lớn hơn nhiều so với diện tích niêm mạc của cơ quan sinh dục nam, do vậy diện tiếp xúc với dịch sinh dục trong tình dục là lớn hơn…;
– Về mặt sinh học: Tinh dịch của nam chứa nhiều HIV hơn dịch âm đạo, làm cho phụ nữ có nguy cơ nhiễm cao hơn so với nam giới
Trong quan hệ tình dục, tinh dịch có thể đọng lại trong âm đạo lâu hơn so với dịch âm đạo trong cơ quan sinh dục nam, làm tăng thời gian tiếp xúc giữa bề mặt âm đạo với dịch sinh dục nam…
– Về mặt xã hội: Cũng có nhiều yếu tố làm cho phụ nữ dễ tiếp cận các nguy cơ lây nhiễm, như  phụ nữ thường là người “bị động” trong quan hệ tình dục, là “đối tượng” bị ép dâm, cưỡng dâm, hiếp dâm (trong các trường hợp này, nguy cơ nhiễm rất cao vì bị xây xước cơ quan sinh dục); phụ nữ hay phải truyền máu do ốm đau, sinh đẻ bị mất máu nhiều…
3.1.2. Người mắc các  bệnh lây truyền qua đường tình dục dễ bị lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục hơn
HIV có quan hệ chặt chẽ với các bệnh lây truyền quia đường tình dục (BLTQĐTD), đặc biệt là các bệnh gây viêm loét bộ phận sinh dục như hạ cam, giang mai. Khi một người mắc bệnh LTQĐTD mà có vết loét ở bộ phận sinh dục thì nguy cơ nhiễm HIV khi quan hệ tình dục với người nhiễm sẽ tăng lên từ 50- 300 lần. Những vết loét đường sinh dục cho phép HIV xâm nhập vào máu. Một số bệnh LTQĐTD như herpes simplex, giang mai… làm giảm khả năng miễn dịch và cũng có thể làm tăng tính cảm nhiễm với HIV. Dịch tiết từ các vết loét sinh dục cũng chứa nhiều các tế bào bị nhiễm HIV…
3.2. Những người tiêm chích ma túy dễ bị nhiễm HIV qua đường máu hơn
Dùng chung bơm, kim chích không khử trùng là con đường lây HIV từ người này sang người khác phổ biến nhất và nhanh nhất. Bởi HIV có thể sống trong giọt máu “mini” ở kim tiêm đến 7 ngày.
Dùng chung ống thuốc gây nghiện cũng có thể bị lây nhiễm, bởi máu dính ở bơm, kim tiêm có thể “chui” vào ống thuốc sau mỗi lần lấy thuốc.
Người nghiện thường mất khả năng điều chỉnh hành vi, nên thường quan hệ tình dục với nhiều người và không sử dụng các biện pháp an toàn… nên còn dễ bị lây nhiễm qua con đường tình dục;
“Mật độ” người nhiễm HIV trong nhóm người chích ma tuý cao nên xác suất họ gặp nhau trong tiêm chích là ráat lớn;…
Người nghiện vốn đã suy yếu do độc chất gây nghiện, nếu nhiễm HIV dễ sinh ra các bệnh nguy hiểm, đưa nhanh đến giai đoạn AIDS…
Người nghiện đã nhiễm HIV, nếu tiếp tục tiêm chích sẽ nguy hiểm hơn vì có thể gây nhiễm sang người khác, còn bản thân họ có thể bị bội nhiễm HIV hoặc các bệnh khác… làm cho tình trạng nhiễm HIV nhanh chóng trở nên tồi tệ.
4. Những đường không làm lây truyền HIV
          Các nghiên cứu đã chứng minh được rằng, ngoài máu, dịch sinh dục, sữa của mẹ, HIV còn có trong các dịch cơ thể khác như nước bọt, nước mắt, nước tiểu, mồ hôi… của người nhiễm HIV, nhưng với nồng độ rất thấp, không đủ ngưỡng để gây lây nhiễm khi tiếp xúc với các lọai dịch này. Do vậy, HIV không lây qua các tiếp xúc thông thường, như:
– Các hành vi giao tiếp thông thường;
– Ho, hắt hơi, nước bọt, nước mắt, mồ hôi;
– Cùng làm việc, cùng học, ở cùng nhà, cùng ngồi trên phương tiện giao thông, cùng đi chợ, ngồi trong rạp hát, rạp chiếu bóng…;
– Dùng chung nhà vệ sinh, buồng tắm, bể bơi công cộng. . .
– Muỗi và các côn trùng khác đốt không làm lây nhiễm HIV…
   Như vậy, chúng ta có thể sống, làm việc, học tập… chung với người nhiễm HIV mà không sợ bị lây nhiễm HIV nếu ta không có sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch sinh dục và các dịch sinh học khác của họ.
III. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH LÂY NHIỄM HIV
1. Phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường tình dục
1.1. Nguyên tắc chung
Tránh mọi sự tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục của người khác, đặc biệt là của những người mà ta không biết chắc chắn người đó có bị nhiễm HIV hay không.
1.2. Các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV qua đường tình dục 
– Không quan hệ tình dục;
– Không quan hệ tình dục trước hôn nhân;
– Lựa chọn bạn tình cẩn thận và xét nghiệm HIV trước khi kết hôn;
– Sống chung thủy với nhau từ cả hai phía.
– Áp dụng các biện pháp quan hệ tình dục an toàn hơn, như:
+ Không xâm nhập (không làm cho dịch sinh dục của người này sang người khác);
+ Quan hệ tình dục qua đường miệng, không xuất tinh trong trường hợp quan hệ dương vật – miệng;
+ Quan hệ tình dục tay – dương vật (không xuất tinh); tay –âm đạo…
+ Vuốt ve, âu yếm bên ngoài.
– Hạn chế quan hệ tình dục với nhiều người, giảm tối đa số bạn tình.
– Không quan hệ tình dục với người bán dâm, mua dâm.
– Dùng bao cao su đúng cách.
Ngoài ra, việc dự phòng, phát hiện và chữa chạy sớm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (hay còn gọi là bệnh hoa liễu) sẽ làm giảm khả năng lây nhiễm HIV qua “con đường” này.
An toàn trong các dịch vụ có liên quan đến dịch sinh dục (thăm khám thai sản, khám phụ khoa, thụ tinh nhân tạo…) cũng là biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV cho người làm dịch vụ cũng như người nhận dịch vụ.
1.3. Dùng bao cao su đúng cách 
– Bao cao su phải còn hạn dùng, vỏ bao nguyên vẹn, không rách, không ròn, không loang lổ.
– Khi lấy bao cao su, đẩy bao cao su về một phía, xé vỏ bao nhẹ nhàng từ phía khác, tránh làm rách bao.
– Khi đeo bao cao su, bóp túi nhỏ ở đầu bao để đuổi hết không khí ra đề phòng bị vỡ bao khi xuất tinh.
– Đặt bao cao su lên dương vật đang cương, để vòng cuốn quay ra ngoài, vuốt vòng cuốn  cho bao che đến tận gốc dương vật.
– Giao hợp xong, dùng giấy hoặc khăn lót tay tháo bao ra khi dương vật còn cương, không để tràn tinh dịch ra ngoài hoặc dịch sinh dục dính vào tay.
– Bỏ bao đã dùng vào sọt rác (cùng với giấy hoặc khăn lót tay).
– Lưu ý là bao cao su chỉ dùng một lần
– Bảo quản ở nơi thoáng, khô ráo.
– Dùng bao cao su ngay từ khi mới bắt đầu cho đến khi kết thúc cuộc tình và tuyệt đối tránh dịch sinh dục của bạn tình dính vào da, niêm mạc của mình.
2. Phòng tránh nhiễm HIV qua đường máu 
2.1. Nguyên tắc chung
 Tránh mọi sự tiếp xúc trực tiếp với máu và các dịch tiết sinh học (mủ, các chất dịch tiết ra từ vết thương hở…) của người khác, nhất là của những người mà ta không biết chắc chắn người đó có bị nhiễm HIV hay không .
2.2. Các biện pháp dự phòng lây truyền HIV qua đường máu
– Chỉ truyền máu khi thật cần thiết.
 – Xét nghiệm sàng lọc tất cả các mẫu máu, các cơ quan, phủ tạng… của người cho để đảm bảo chúng không bị nhiễm HIV trứớc khi truyền hay cấy ghép cho người khác (tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, ở nhiều nước, trong đó có nước ta việc xét nghiệm sàng lọc này vẫn chưa đảm bảo an toàn tuyệt đối vì chưa khắc phục được thời kỳ “cửa sổ”)
– Mọi dụng cụ xuyên chích qua da dùng trong tiêm, chích, trong thủ thuật, phẫu thuật chữa bệnh và sửa sắc đẹp v.v.. đều dùng riêng hoặc sau khi đã được tiệt trùng đúng cách.
– Dùng riêng mọi dụng cụ có khả năng dính máu như bàn chải đánh răng, dao cạo râu…
– Mang găng tay hoặc đồ lót tay, kính bảo vệ mắt, khẩu trang… để tránh tiếp xúc trực tiếp với máu… khi cấp cứu bệnh nhân có chảy máu.
– Không dùng ma tuý. Nếu đã trót dùng thì phải cai nghiện ngay. Nếu chưa cai được thì chỉ hút hít chứ không chích. Nếu chích thì không dùng chung dụng cụ tiêm chích. Nếu dùng chung thì chỉ dùng sau khi những dụng cụ này đã được tiệt trùng đúng cách…
 
3. Phòng tránh lây truyền HIV từ mẹ sang con 
– Tăng cường phòng, chống HIV/AIDS cho phụ nữ, nhất là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
– Vận động phụ nữ đi tư vấn và xét nghiệm phát hiện HIV trước khi có ý định mang thai, nhất là đối với những phụ nữ từng có hay đang có hành vi nguy cơ cao (bán dâm, tiêm chích ma tuý…) hoặc có chồng là người từng có hoặc đang có hành vi nguy cơ cao;
– Phổ biến, cung ứng dịch vụ tránh thai cho phụ nữ nhiễm HIV
– Phụ nữ biết mình đã nhiễm HIV thì không nên mang thai, nên áp dụng các biện pháp tránh thai, tốt nhất là dùng bao cao su trong mọi lần quan hệ tình dục.
– Phụ nữ nhiễm HIV đã mang thai thì nên đặt vấn đề phá thai sớm nếu có chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa;
– Nếu phụ nữ nhiễm HIV vẫn muốn giữ thai thì cần được tư vấn và được thăm khám thai hàng tháng ở các cơ sở y tế chuyên khoa để điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Ngoài các biện pháp sinh đẻ và chăm sóc thích hợp cả người phụ nữ nhiễm HIV khi mang thai và trẻ sơ sinh sau đẻ nếu được uống thuốc kháng vi rút sẽ giảm đáng kể tỷ lệ trẻ bị nhiễm HIV từ mẹ (từ 30% xuống còn khoảng 5%).
– Nên đẻ ở bệnh viện. Tránh chuyển dạ lâu. Có thể mổ lấy thai nếu có chỉ định…
– Không nên cho con bú sau đẻ.
Nhưng điều quan trọng nhất trong dự phòng lây truyền từ mẹ sang con vẫn là giúp chị em phụ nữ và chị em phụ nữ chủ động tìm hiểu để hiểu rõ nguy cơ lây nhiễm và cơ chế lây truyền HIV để họ biết các tự phòng bệnh cho mình và tránh lây nhiễm cho con cái.
IV. MỘT SỐ CÂU HỎI THƯỜNG GẶP KHI TRUYỀN THÔNG VỀ HIV/AIDS
1. Tại sao côn trùng đốt hay súc vật cắn lại không làm lây truyền HIV? 
Như trên đã trình bày, HIV là loại vi rút chỉ tồn tại và “sinh sôi nảy nở” được trong cơ thể người.
Người ta chưa tìm thấy một loại côn trùng hay súc vật nào thích hợp cho HIV phát triển. Do vậy, không một loại côn trùng hoặc súc vật nào có thể truyền HIV cho người.
2. Tại sao kim tiêm có thể làm lây truyền HIV, còn vòi muỗi đốt thì không?
      Đó là vì kim chích và vòi muỗi khác xa nhau.
Về mặt khoa học, khi theo máu người vào cơ thể muỗi HIV sẽ bị dịch vị dạ dày muỗi tiêu diệt. Do vậy, HIV không thể sống và nhân lên trong cơ thể muỗi được. Ngay cả khi cho rằng vòi muỗi có thể dính HIV giống như kim tiêm, thì khả năng lây truyền HIV cũng không xảy ra, vì lượng HIV có thể dính vào vòi muỗi là rất không đáng kể, không đủ ngưỡng để làm lây truyền HIV từ người nhiễm sang người lành.
Trên thực tế, ở châu Phi, những vùng bị sốt rét, sốt xuất huyết (những bệnh do muỗi là trung gian truyền bệnh) nặng nề không tương ứng với vùng có tỷ lệ nhiễm HIV cao và ngược lại…
3. Vì sao mà chưa tìm ra được vắc xin phòng nhiễm HIV?
Có  nhiều lý do, nhưng chủ yếu vẫn là:
– HIV có khả năng biến dị rất lớn, vì thế không thể có vacxin kích thích cơ thể tạo ra kháng thể đáp ứng kịp sự “thay hình đổi dạng” của HIV. Mặt khác khó tìm ra một loại vắc-xin thích ứng cùng một lúc với nhiều chủng HIV khác nhau, lại được phân bổ ở nhiều vùng khác nhau;
– Nhiều đặc tính của HIV chưa được làm sáng tỏ;
– Sự đầu tư về nguồn lực quá tốn kém;
– Nhiều vấn đề liên quan đến pháp lý và đạo đức khi tiến hành thử nghiệm vắc xin trên cơ thể người…chưa được giải quyết…
4. Có cách nào chữa được AIDS chưa?
Hiện nay có nhiều loại thuốc kháng vi rút (gọi tắt là ARV) có tác dụng làm chậm sự phát triển của HIV, chứ chưa có thuốc điều trị khỏi AIDS.
Phương pháp điều trị kết hợp các loại thuốc tuy có hiệu quả bước đầu nhưng rất tốn kém và cũng mới dừng lại ở mức độ kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân…
5. Làm thế nào để biết một người bị nhiễm HIV?
Nhìn bề ngoài, không thể biết được ai là người nhiễm HIV.
Chỉ có một cách chắc chắn để khẳng định ai đó đã nhiễm HIV là xét nghiệm máu. Ngay cả khi xét nghiệm máu cho kết quả âm tính cũng chưa khẳng định được nếu người nhiễm đang trong “thời kỳ cửa sổ”.
6. Như vậy, nếu kết quả xét nghiệm tìm kháng thể  là “âm tính” thì liệu đã yên tâm là mình chưa bị nhiễm HIV?
Bạn chưa thể yên tâm vì tình trạng nhiễm của bạn có thể đang ở trong “thời kỳ cửa sổ”, đặc biệt trong trường hợp bạn đã từng có hành vi nguy cơ cao (như chích ma tuý dùng chung bơm kim tiêm hoặc quan hệ với người bán dâm mà không dựng bao cao su…) trong  3 tháng qua.
Để khẳng định, bạn cần đi xét nghiệm ít nhất là sau ba tháng tính từ khi có hành vi nguy cơ và trong giai đoạn đó bạn không có thêm bất cứ hành vi nguy cơ nào khác.
7. Xét nghiệm HIV có được giữ bí mật không?
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì:
Cán bộ xét nghiệm và những người tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ phải đảm bảo bí mật cho người nhiễm HIV.
Nhưng pháp luật cũng quy định người nhiễm HIV phải thông báo ngay tình trạng nhiễm HIV của mình cho vợ hoặc chồng hoặc người sắp kết hôn với mình biết để có biện pháp phòng tránh lây bệnh (Luật phòng, chống HIV/AIDS).
8. Ai là người có thể nhiễm HIV? 
    Tất cả mọi người đều có thể bị nhiễm HIV nếu có các hành vi nguy cơ (liên quan trực tiếp đến máu và dịch sinh dục của người khác), như:
– Quan hệ tình dục, nhất là với người nhiễm HIV hay với người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao mà không dùng bao cao su đúng cách;
– Dùng chung bơm kim tiêm và dụng cụ tiêm, chích với người nhiễm HIV;
– Dùng chung các dụng cụ có liên quan đến máu và dịch sinh dục như dao kéo phẫu thuật, châm cứu, xăm mình, xâu lỗ tai, dao cạo râu, dụng cụ chữa răng, dụng cụ thăm khám thai sản…;
– Nhận máu và các sản phẩm của máu chưa qua sàng lọc HIV;
– Dính máu của người nhiễm HIV thông qua các vết thương hở hoặc da tay xây sát…
– Người mẹ nhiễm HIV có thể truyền HIV cho con mình trong khi mang thai, khi đẻ, hoặc khi bú sữa mẹ…
Bs. Chu Quốc Ân
(Biên soạn)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s